Luận văn Phân tích chuỗi giá trị và đề xuất giải pháp phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp
Trong những năm gần đây, nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng với
thế giới, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, quá trình toàn cầu hóa ngày càng
diễn ra nhanh chóng, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, bên cạnh những cơ hội,
doanh nghiệp còn đứng trước những khó khăn, thách thức. Để đáp ứng được yêu
cầu của thị trường rộng lớn và đòi hỏi phát triển bền vững, các doanh nghiệp ngày
nay cần tiến hành phân tích và đánh giá lại cả quá trình từ khi còn là nghiên cứu
đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhằm xác định được lợi thế cạnh tranh nằm ở
giai đoạn nào để có chiến lược phát triển dựa trên thế mạnh sẵn có của mình. Về
phía Nhà nước cần có những chính sách cần thiết để tháo gỡ những nút thắt đối với
cả quá trình khởi điểm từ những ý tưởng, nghiên cứu, đến sản xuất, kênh phân
phối và tiêu thụ sản phẩm.
Theo Micheal Porter khởi xướng vào giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20 trong
cuốn sách Best-seller, có thể nói, chuỗi giá trị là một tập hợp những hoạt động để
đưa một sản phẩm từ khi còn ý tưởng đến khi được sản xuất, đưa vào sử dụng và
cả dịch vụ sau bán hàng. Như vậy, chuỗi giá trị đã bao gồm các hoạt động như
thiết kế mẫu mã, sản xuất, marketing, phân phối và dịch vụ sau bán hàng cho
người tiêu dùng cuối cùng. Các công đoạn này diễn ra kế tiếp nhau và tác động lẫn
nhau để cùng tạo ra sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm đó. Để chuỗi giá trị diễn ra
bình thường thì bên cạnh các hoạt động sản xuất phải có các hoạt động dịch vụ hỗ
trợ, đó là: quản lý hành chính, phát triển cơ sở hạ tầng, quản lý nguồn nhân lực,
cung cấp thông tin và những dịch vụ bảo trì thiết bị, nhà xưởng sản xuất,…
File đính kèm:
luan_van_phan_tich_chuoi_gia_tri_va_de_xuat_giai_phap_phat_t.pdf
Nội dung text: Luận văn Phân tích chuỗi giá trị và đề xuất giải pháp phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp
- CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, quá trình toàn cầu hóa ngày càng diễn ra nhanh chóng, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, bên cạnh những cơ hội, doanh nghiệp còn đứng trước những khó khăn, thách thức. Để đáp ứng được yêu cầu của thị trường rộng lớn và đòi hỏi phát triển bền vững, các doanh nghiệp ngày nay cần tiến hành phân tích và đánh giá lại cả quá trình từ khi còn là nghiên cứu đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhằm xác định được lợi thế cạnh tranh nằm ở giai đoạn nào để có chiến lược phát triển dựa trên thế mạnh sẵn có của mình. Về phía Nhà nước cần có những chính sách cần thiết để tháo gỡ những nút thắt đối với cả quá trình khởi điểm từ những ý tưởng, nghiên cứu, đến sản xuất, kênh phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Theo Micheal Porter khởi xướng vào giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20 trong cuốn sách Best-seller, có thể nói, chuỗi giá trị là một tập hợp những hoạt động để đưa một sản phẩm từ khi còn ý tưởng đến khi được sản xuất, đưa vào sử dụng và cả dịch vụ sau bán hàng. Như vậy, chuỗi giá trị đã bao gồm các hoạt động như thiết kế mẫu mã, sản xuất, marketing, phân phối và dịch vụ sau bán hàng cho người tiêu dùng cuối cùng. Các công đoạn này diễn ra kế tiếp nhau và tác động lẫn nhau để cùng tạo ra sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm đó. Để chuỗi giá trị diễn ra bình thường thì bên cạnh các hoạt động sản xuất phải có các hoạt động dịch vụ hỗ trợ, đó là: quản lý hành chính, phát triển cơ sở hạ tầng, quản lý nguồn nhân lực, cung cấp thông tin và những dịch vụ bảo trì thiết bị, nhà xưởng sản xuất, Vì vậy, việc phân tích chuỗi giá trị là một phương pháp hữu hiệu để đánh giá tốt nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của một ngành hàng, cũng như đánh giá vai trò và phạm vi ảnh hưởng của nó trong một quốc gia hay toàn cầu.
- Ở Việt Nam, đối với một vài sản phẩm nông nghiệp đã được các chuyên gia kinh tế hàng đầu tiến hành phân tích, theo đó, các công đoạn nghiên cứu, sản xuất, phát triển và xây dựng thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm của chuỗi là nhằm tạo ra giá trị cao trong việc tạo lợi nhuận cho toàn chuỗi. Tuy nhiên với công nghệ còn thấp kém, nên khả năng chế biến sau thu hoạch cần nổ lực vươn lên để chiếm lĩnh công nghệ mới theo khả năng và lợi thế của mình, từ đó, nhằm giành lại lợi ích cả công đoạn nghiên cứu tạo giống nông sản mới, giá trị gia tăng mới, cao hơn, nếu không sẽ rơi vào tình trạng thua thiệt. Đây chính là thách thức to lớn đối với tác nhân của nền kinh tế đang phát triển khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Sản xuất nông sản hàng hóa của đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Đồng Tháp nói riêng đã có nhiều đổi mới, tiến bộ nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, giá thành cao, lợi nhuận thấp. Các khâu sản xuất, thu gom, chế biến và tiêu thụ nông sản thiếu tính liên kết bền vững cùng hỗ trợ nhau phát triển. Ở tỉnh Đồng Tháp, về ngành nông sản - trái nhãn, ta thấy được: thu nhập của người trồng nhãn bấp bênh do giá biến động, sản lượng được tiêu thụ qua nhiều tác nhân trung gian. Có nhiều vấn đề xoay quanh các khâu sản xuất và tiêu thụ được đặt ra cho sản phẩm trái nhãn tỉnh Đồng Tháp, cần được phân tích để có thể giúp các tác nhân tham gia chuỗi giá trị có thể gia tăng thu nhập. Doanh nghiệp chế biến nông sản, trong đó hướng đến trái nhãn, còn nhiều lý do khác nhau, trong đó, việc hoạch toán kinh doanh cho mặc hàng còn thiếu cơ sở về mặc bằng chi phí, công nghệ chế biến, và thị trường tiêu thụ . Nên chưa mạnh dạn đầu tư sản xuất kinh doanh chế biến nông sản này tại Đồng Tháp. Về khía cạnh những người quản lý còn thiếu cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội về ngành hàng này như: khả năng và mức đóng góp về kinh tế xã hội từ trái nhãn, khả năng giải quyết việc làm, mức giá trị và giá trị gia tăng toàn ngành hàng Khả năng tác động của các chính sách thương mại, xúc tiến thương mại, 2
- việc triển khai áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất trái nhãn nói riêng và nông sản nói chung Vì vậy, nhiều vấn đề xoay quanh các khâu trồng trọt và tiêu thụ, hoạch định chiến lược phát triển được đặt ra cho sản phẩm trái nhãn Đồng Tháp, để giải quyết vấn đề này nhất thiết phải tiến hành phân tích toàn bộ các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị. Nhận thức được vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phân tích chuỗi giá trị và đề xuất giải pháp phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình. 1.2. Tình hình nghiên cứu có liên quan Nghiên cứu về chuỗi giá trị của các sản phẩm nông nghiệp đã được thực hiện rất nhiều ở Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi một nghiên cứu lại tiếp cận vấn đề ở khía cạnh, phạm vi và đối tượng khác nhau. Chưa có đề tài nào nghiên cứu về chuỗi giá trị Trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp. Phần dưới đây là điểm qua một số nghiên cứu điển hình có liên quan đến phân tích chuỗi giá trị nông sản: Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật Cộng hòa Liên bang Đức (GTZ) đã phối hợp với các tổ chức và các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện một số nghiên cứu về chuỗi giá trị ở một số tỉnh thành chọn lọc. Một số nghiên cứu thực nghiệm được công bố như “Áp dụng phương pháp chuỗi giá trị để phát triển ngành dâu tằm tơ tại Tuyên Hóa, Quảng Bình” (Thanh, 2006a); “Phân tích chuỗi giá trị sản phẩm cao su ở Quảng Bình” (Thanh, 2006b), “Phân tích chuỗi giá trị bơ Đắc Lắc” (GTZ, 2006a), “Phân tích chuỗi giá trị rau cải ngọt Hưng Yên” (GTZ, 2006b), “Phân tích chuỗi giá trị cá tra và ba sa ở ĐBSCL” (GTZ, 2009). Phương pháp nghiên cứu phần lớn dựa vào cuốn “Cẩm nang Liên kết Giá trị: Phương pháp luận thúc đẩy chuỗi giá trị” của GTZ phát hành (GTZ, 2007). Nền tảng phương pháp luận của GTZ chủ yếu dựa vào nghiên cứu của Kaplinsky và Morris (2001). Hầu hết các nghiên cứu đã cung cấp những kết quả và khuyến nghị có giá trị cho các bên có liên quan trong chuỗi giá trị. 3
- Công ty nghiên cứu thị trường Việt Nam (Axis Research) có nhiều nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị rau củ quả và trái cây. Các phân tích tiến hành xác định cấu trúc chuỗi giá trị sản phẩm và phân tích đặc điểm sản xuất và thương mại, tính toán lợi ích và chi phí nhằm xác định sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi. Axis Research (2006) đã phân tích cấu trúc thị trường tiêu thụ bưởi Vĩnh Long, phân tích quan hệ của các tác nhân, người thu gom có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, so với chuỗi giá trị nho Ninh Thuận thì người trồng bưởi Vĩnh Long có ưu thế hơn trong việc quyết định thời điểm bán và giá bán vì bưởi không dễ hư hỏng và có thể neo trái lại trên cây hoặc thu hoạch và bảo quản. Đặc biệt, lượng cung bưởi nhỏ nên thương lái phải cạnh tranh cao trong thu mua hàng.Các doanh nghiệp chế biến bưởi gặp nhiều khó khăn do đầu ra không ổn định và chất lượng bưởi Việt Nam không cao. Nguyễn Thị Kim Nguyên (2013), cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng khách hàng, tình hình thị trường và cạnh tranh đối với sản phẩm dừa trái tươi Bến Tre. Bắt đầu từ thị trường tiêu thụ và lấy thị trường quyết định sản xuất, tác giả đã phân tích từng tác nhân tham gia chuỗi. Khuyến nghị việc vận hành và phát triển chuỗi cần sự chủ động phối hợp liên kết chuỗi trong tất cả các khâu. Lê Minh Tài (2013), chuỗi giá trị cây Khóm huyện Tân Phước –Tiền Giang, với 3 tác nhân: người sản xuất, thu gom và công ty chế biến. Bên cạnh việc đề nghị phát triển về cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho chuỗi, đề tài nhấn mạnh đến mối liên kết dọc, trong đó, người sản xuất đóng vai trò trung tâm bên cạnh nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và sự hỗ trợ từ ngân hàng. Nguyễn Phú Son và cộng sự (2012), chuỗi giá trị các sản phẩm Táo, Tỏi và Nho Ninh Thuận, nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc liên kết, xây dựng kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm là yêu cầu cấp thiết. Vì cho rằng kênh phân phối chủ yếu theo con đường truyền thống, nông hộ khá thụ động trong thu hoạch và tiêu thụ. Hệ thống thu gom sản phẩm qua nhiều tầng nấc trung gian, hoạt động thương mại dựa trên cơ sở mối thân quen và hợp đồng miệng. Rủi ro về thời tiết, sâu bệnh và thị trường tiêu thụ luôn đe dọa. Người bán sỉ có quyền lực định giá trong chuỗi giá trị sản phẩm này. 4
- UBND Đồng Tháp (2014), đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030. Phạm vi của đề án chủ yếu tập trung phân tích và đề xuất các định hướng cho tái cơ cấu ngành nông nghiệp, làm cơ sở cho việc triển khai các chương trình hành động lớn của tỉnh. Đây là đề án khung, đề án mở và sẽ liên tục cập nhật sau từng giai đoạn. Trong đó, đề án tiến hành phân tích chuỗi giá trị 5 ngành hàng chủ lực của Đồng Tháp, đó là: “Ngành hàng Lúa gạo, Ngành hàng Xoài, Ngành hàng Hoa Kiểng và Ngành hàng Cá da trơn, Ngành hàng Vịt”. Cung cấp thực trạng quy mô sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, khả năng áp dụng tiêu chuẩn chất lượng còn rất hạn chế. Bên cạnh việc liên kết sản xuất và tiêu thụ hàng hóa chưa chặt chẽ, chưa hệ thống, thông tin về thị trường tiêu thụ chưa phát triển, chưa được dự báo, xúc tiến thương mại còn thiếu và yếu. Hệ thống hạ tầng đối với vùng sản xuất chưa được đảm bảo, doanh nghiệp đầu tàu trong việc thu mua sản phẩm xuất khẩu chưa đáp ứng yêu cầu người sản xuất. Những kịch bản về tăng di cư lao động, tích tụ ruộng đất, tập trung tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ và tái cơ cấu kinh tế toàn diện đã được đưa ra và hướng tới các phương án tăng quy mô ruộng đất, rút bớt lao động nông nghiệp, thay đổi kết cấu kinh tế và việc làm. 1.3. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học khách quan về thực trạng sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm qua việc phân tích cụ thể từng tác nhân tham gia vào chuỗi và trên cơ sở đánh giá hiệu quả chuỗi, đề xuất giải pháp nhằm góp phần phát triển bền vững chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp. Mục tiêu cụ thể: 1. Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị sản phẩm trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp. 2. Phân tích kinh tế và đánh giá hiệu quả chuỗi giá trị. 3. Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp. 5
- 1.4. Câu hỏi nghiên cứu Để thỏa mãn các mục tiêu nghiên cứu cụ thể nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu sau đây được đặt ra: (1) Thực trạng chuỗi giá trị Trái nhãn tiêu da bò Đồng Tháp như thế nào? (2) Giá trị kinh tế từng tác nhân trong chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp như thế nào? (3) Giái pháp nào để phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò –Đồng Tháp? 1.5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu Các tác nhân tham gia vào chuỗi bao gồm: nhà sản xuất (hộ gia đình nông dân - NH), TL thu gom, VN đầu mối, cơ sở chế biến (lò sấy - LS), doanh nghiệp hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất khẩu trái nhãn tiêu da bò ít nhất một năm, đến kênh phân phối tiêu dùng bao gồm Người Bán lẻ tại Chợ đầu mối trong Tỉnh, Người bán lẻ tại Chợ đầu mối ngoài tỉnh. Ngoài ra còn tham khảo ý kiến thêm nhà cung cấp sản phẩm đầu vào (phân bón, thuốc BVTV, cây giống). Thêm vào đó, nghiên cứu cũng tham khảo ý kiến và phỏng vấn một số đơn vị/cá nhân có chức năng hỗ trợ/thúc đẩy chuỗi giá trị là các Sở, Ngành Tỉnh, huyện có liên quan. - Phạm vi nghiên cứu Không gian: Bao quát toàn bộ chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp từ sản xuất đến tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Địa điểm: Địa bàn sản xuất và tiêu thụ trong tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ tác nhân tham gia chuỗi, nghiên cứu 2 địa điểm có dòng sản lượng tiêu thụ lớn (TP HCM, TP Cần Thơ) và Doanh nghiệp xuất khẩu trái cây (Cái Bè - Tiền Giang) thực hiện xuất khẩu trái nhãn tiêu da bò ra nước ngoài. Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 11/2014 đến tháng 5/2015. 6
- Phạm vi nội dung nghiên cứu của đề tài: Tập trung phân tích chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò và đề xuất giải pháp nhằm phát triển bền vững chuỗi. Trong đó, tiến hành phân tích và đánh giá về chi phí, phân phối thu nhập, kênh phân phối cụ thể từng tác nhân tham gia chuỗi, đánh giá hiệu quả kinh tế toàn chuỗi. 1.6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Làm sáng tỏ và đánh giá đúng thực trạng, qua đó, cung cấp cơ sở dữ liệu khách quan độc lập về chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp. Trong đó, nêu bật hiệu quả kinh tế, các giá trị đóng góp về mặt kinh tế, xã hội mà chuỗi mang lại, những tồn tại và nguyên nhân được tìm thấy trong quá trình phân tích chuỗi. Qua đó, đề xuất giải pháp phát triển chuỗi giá trị, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, định hướng phát triển bền vững đến năm 2020. 1.7 Kết cấu của luận văn Ngoài các phần phụ, kết cấu của Luận văn bao gồm: Chương 1: Giới thiệu đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận & Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp Chương 4: Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp Chương 5: Kết luận & Kiến nghị --------------oOo-------------- 7
- TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Chương 1 cũng đã đi vào phân tích về sự cần thiết của việc thực hiện đề tài, đề cập mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Trong đó, cũng đã tiến hành đánh giá tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài như những nghiên cứu về chuỗi giá trị của các sản phẩm nông nghiệp, đề tài tái cơ cấu ngành nông nghiệp Đồng Tháp nhằm định hướng khung cho những nghiên cứu tiếp theo. Với vấn đề nghiên cứu và những câu hỏi đã được đặt ra, ta tiến hành đi vào phần cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu về chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò –Đồng Tháp tại chương 2. --------------oOo-------------- 8
- CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm 2.1.1 Các khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích chuỗi giá trị Doanh thu hay tổng giá trị đầu ra Doanh thu hay tổng giá trị đầu ra được tính bằng cách nhân số lượng hàng bán với giá bán cộng thêm những nguồn thu nhập thêm như doanh thu từ việc thực hiện những dịch vụ có liên quan, từ việc bán phể phẩm, tư vấn, Chỉ tiêu này cho biết đối tượng tham gia chuỗi gia trị thu được bao nhiêu tiền. Khi nghiên cứu chuỗi giá trị trong khoảng thời gian dài, người ta cần phải lưu ý về tỷ lệ lạm phát do vậy chọn một mốc thời gian cụ thể và quy giá trị của doanh thu về mối thời gian đó mới chính xác. Giá trị gia tăng hay tổng giá trị đầu ra dòng Giá trị gia tăng hay tổng giá trị đầu ra dòng được tính bằng tổng giá trị đầu ra trừ đi tổng giá trị đầu vào. Đây là một chỉ tiêu quan trọng trong phân tích chuỗi giá trị bởi nó cho biết đối tượng tham gia chuỗi giá trị đóng góp được bao nhiêu giá trị vào sản phẩm hay dịch vụ cuối cùng. Giá trị gia tăng là mức đo lợi nhuận được tạo ra bởi tác nhân của từng khâu trong chuỗi giá trị. Chuỗi giá trị chỉ mang lại lợi nhuận cho các tác nhân nếu người tiêu dùng sẵn sàng chi trả giá sản phẩm cuối cùng. Người tiêu dùng, vì thế, không tạo ra giá trị gia tăng. Chi phí /Giá trị gia tăng thuần (lợi nhuận) Việc phân tích chi phí và lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với việc phân tích chuỗi giá trị bởi thông tin về chi phí và lợi nhuận là thông tin có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra những quyết định có liên quan đến chuỗi. Mục tiêu của việc phân tích chuỗi giá trị trên khía cạnh chi phí và lợi nhuận là xác định chi phí 9
- hoạt động đầu tư và lợi nhuận đã được phân chia giữa những người tham gia chuỗi giá trị như thế nào, cũng như cơ hội để tăng giá trị của quá trình/công đoạn tham gia đó. Chi phí tăng thêm Chi phí tăng thêm là những chi phí phát sinh ngoài chi phí dùng để mua những sản phẩm trung gian, chi phí tăng thêm có thể là chi phí thuê lao động, chi phí vận chuyển, liên lạc, điện, nước, chi phí bán hàng, v.v Chi phí tăng thêm là chi phí hoạt động đầu tư của từng tác nhân tham gia chuỗi giá trị và chính là hiệu số giữa tổng giá trị đầu ra với lợi nhuận của tác nhân đó. Các khâu, tác nhân tham gia chuỗi Trong chuỗi giá trị có các “khâu” trong chuỗi. Các khâu có thể mô tả cụ thể bằng các “hoạt động” để thể hiện rõ các công việc của khâu. Bên cạnh các Khâu của chuỗi giá trị có “tác nhân”. Tác nhân là những người thực hiện các chức năng của các khâu trong chuỗi, ví dụ như nhà cung cấp đầu vào cho sản xuất, nông dân sản xuất lúa, thương lái vận chuyển hàng hóa, v.v. Bên cạnh đó còn có các “nhà hỗ trợ chuỗi giá trị”. Nhiệm vụ của các nhà hỗ trợ chuỗi là giúp phát triển của chuỗi bằng cách tạo điều kiện nâng cấp chuỗi giá trị. Các hình thức liên kết Liên kết kinh tế Liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạt động, do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các biện pháp có liên quan đến hoạt động của mình, nhằm thúc đầy việc kinh doanh phát triển theo chiều hướng có lợi nhất. Liên kết dọc Liên kết dọc là hình thức liên kết của hai hay nhiều chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất theo hướng hoàn thiện của sản phẩm hay dịch vụ. Thông thường 10